Chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản: Từ đổi mới quy trình đến lan toả tri thức khoa học xã hội
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, chuyển đổi số tại Nhà xuất bản và Tạp chí Khoa học xã hội không chỉ là đưa sách, tạp chí lên môi trường điện tử. Đây là quá trình đổi mới đồng bộ cách lập kế hoạch, tổ chức biên tập, sản xuất, quản trị dữ liệu và phát hành, qua đó rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao chất lượng xuất bản phẩm và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức khoa học xã hội và nhân văn.
Nghị quyết
số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đổi mới
phương thức quản trị, nâng cao năng suất và đưa đất nước phát triển bứt phá
trong kỷ nguyên mới. Đối với lĩnh vực xuất bản học thuật, tinh thần ấy đặt ra
một yêu cầu rất cụ thể: tri thức khoa học không thể chỉ được tạo ra, biên tập
và lưu giữ theo phương thức truyền thống, mà cần được tổ chức thành nguồn dữ liệu
có khả năng kết nối, tìm kiếm, khai thác và lan tỏa nhanh chóng, chính xác, an
toàn.
Nhà xuất bản
và Tạp chí Khoa học xã hội là đơn vị gắn trực tiếp với quá trình chuyển hóa kết
quả nghiên cứu khoa học thành sách, tạp chí và các sản phẩm thông tin khoa học
phục vụ bạn đọc. Vì vậy, chuyển đổi số trước hết phải bắt đầu từ việc thực hiện
các mảng công việc: tiếp nhận bản thảo, xây dựng kế hoạch, tổ chức biên tập,
chế bản, thiết kế, in ấn, phát hành, lưu chiểu, thanh quyết toán và lưu trữ hồ
sơ. Nếu mỗi khâu vẫn vận hành tách rời, dữ liệu phải nhập lại nhiều lần và tiến
độ chủ yếu được theo dõi bằng kinh nghiệm cá nhân, thì việc sử dụng một vài
phần mềm mới chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ thông tin, chưa tạo ra sự thay đổi
căn bản về phương thức hoạt động.
Chuyển đổi
số đòi hỏi hình thành một quy trình thống nhất, trong đó mỗi bản thảo được quản
lý xuyên suốt bằng hồ sơ số và mã nhận diện; thông tin về tác giả, đề tài, hợp
đồng, tình trạng biên tập, tiến độ chế bản, kế hoạch in và phát hành được cập
nhật theo trách nhiệm của từng bộ phận. Khi dữ liệu được chuẩn hóa ngay từ đầu,
lãnh đạo có thể theo dõi tiến độ theo thời gian thực, bộ phận kế hoạch chủ động
nhận diện khâu chậm, người làm sản xuất hạn chế sai lệch phiên bản, còn công
tác tài chính - kế toán có căn cứ đối chiếu rõ ràng. Giá trị lớn nhất của công
nghệ không nằm ở việc thay giấy bằng tệp điện tử, mà ở khả năng tạo ra một dòng
công việc minh bạch, liên thông và có thể đo lường.
Trong quy
trình đó, ở bất kỳ thời điểm nào có thể nhận biết bản thảo đang ở giai đoạn
nào, ai chịu trách nhiệm, mốc hoàn thành ra sao, nguồn kinh phí nào được sử
dụng và sản phẩm dự kiến được phát hành trên những kênh nào. Dữ liệu tiến độ
cần được cập nhật tại nơi công việc phát sinh, thay vì tổng hợp thủ công vào
cuối kỳ. Đây là cơ sở để điều phối nhân lực hợp lý, giảm thời gian chờ giữa
biên tập - chế bản - in ấn, đồng thời giúp việc đánh giá kết quả công việc dựa
trên sản phẩm cụ thể và mức độ hoàn thành thực chất.
Cùng với số
hóa quy trình, phát triển xuất bản điện tử mở ra không gian mới cho việc phổ
biến các kết quả nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Sách
điện tử và tạp chí điện tử giúp bạn đọc tiếp cận tri thức không phụ thuộc
khoảng cách địa lý; tạo điều kiện tìm kiếm theo tác giả, chủ đề, từ khóa; đồng
thời hỗ trợ thống kê nhu cầu đọc để lựa chọn nội dung và phương thức truyền
thông phù hợp hơn. Tuy nhiên, phát hành số không đơn giản là chuyển tệp in sang
định dạng PDF. Sản phẩm điện tử cần đáp ứng yêu cầu về cấu trúc, khả năng hiển
thị trên nhiều thiết bị, siêu dữ liệu, bản quyền, bảo mật, lưu trữ lâu dài và
trải nghiệm của người đọc.
Từ góc độ
quản trị, dữ liệu xuất bản phải được xem là một tài sản của đơn vị. Mỗi bản
thảo, bìa sách, tệp chế bản, hợp đồng, quyết định xuất bản, thông tin ISBN, hồ
sơ lưu chiểu và dữ liệu phát hành đều cần có quy tắc đặt tên, phân quyền truy
cập, sao lưu và kiểm soát phiên bản. Việc xây dựng kho dữ liệu tập trung không
chỉ giúp tìm kiếm nhanh hơn mà còn giảm nguy cơ thất lạc, sử dụng nhầm tệp hoặc
lộ lọt tài liệu. Cùng với đó, an toàn thông tin, bảo vệ quyền tác giả và quyền
liên quan phải được tích hợp ngay trong thiết kế quy trình, thay vì xử lý như
một yêu cầu bổ sung sau khi hệ thống đã vận hành.
Công nghệ
chỉ phát huy hiệu quả khi người sử dụng hiểu rõ mục tiêu và sẵn sàng thay đổi
thói quen làm việc. Mỗi viên chức không nhất thiết phải trở thành chuyên gia
công nghệ, nhưng cần có năng lực số phù hợp với vị trí việc làm: biết cập nhật
dữ liệu đúng chuẩn, sử dụng chữ ký số và hồ sơ điện tử, nhận diện rủi ro an
toàn thông tin, khai thác công cụ hỗ trợ biên tập và truyền thông một cách có
trách nhiệm. Đối với trí tuệ nhân tạo, có thể nghiên cứu ứng dụng vào nhận dạng
ký tự, kiểm tra hình thức, gợi ý từ khóa, hỗ trợ thống kê hoặc phát hiện trùng
lặp; song mọi nội dung học thuật và quyết định xuất bản vẫn phải được con người
thẩm định, chịu trách nhiệm.
Chuyển đổi
số cũng làm thay đổi cách truyền thông và phát hành xuất bản phẩm. Thay vì chỉ
giới thiệu sách tại thời điểm phát hành, đơn vị có thể xây dựng một chuỗi nội
dung số gồm thông tin về công trình, trích đoạn có giá trị, trao đổi với tác
giả, tọa đàm chuyên đề và liên kết trực tiếp tới địa chỉ đọc hoặc đặt mua.
Website, tạp chí điện tử và các kênh mạng xã hội cần được vận hành thống nhất
về thông điệp, nhận diện và lịch nội dung. Cách làm này vừa kéo dài vòng đời
truyền thông của mỗi đầu sách, vừa đưa tri thức học thuật đến gần hơn với những
nhóm bạn đọc khác nhau mà vẫn bảo đảm tính chính xác, chuẩn mực.
Để quá trình
chuyển đổi tạo ra kết quả bền vững, đơn vị cần lựa chọn những việc thiết thực,
có thể đo lường và cải tiến liên tục. Có thể bắt đầu bằng việc chuẩn hóa hồ sơ
số cho từng đầu sách, tạp chí, thiết lập bảng theo dõi tiến độ dùng chung,
thống nhất danh mục dữ liệu, số hóa các biểu mẫu lặp lại và đo thời gian xử lý
trước - sau khi áp dụng. Những sáng kiến nhỏ nhưng giải quyết đúng điểm nghẽn
cần được ghi nhận, nhân rộng. Đây cũng chính là cách cụ thể hóa tinh thần Nghị
quyết số 57-NQ/TW, cải tiến nâng cao hiệu quả công tác, dù bắt đầu từ một quy
trình rất gần với công việc hằng ngày.
Để triển
khai trong thực tế, đơn vị cần rà soát lại toàn bộ quy trình nghiệp vụ và xác
định một hồ sơ số thống nhất cho từng đầu sách, tạp chí. Hồ sơ này không thay
thế ngay mọi chứng từ giấy theo quy định, nhưng phải trở thành nguồn thông tin
điều hành chính, bao gồm kế hoạch, bản thảo được duyệt, hợp đồng, tiến độ biên
tập, tình trạng chế bản, thông tin in, lưu chiểu, phát hành và thanh quyết
toán. Phòng Hành chính - Tổng hợp thực hiện vai trò phối hợp kế hoạch, đôn đốc
mốc thời gian và tổng hợp báo cáo; các bộ phận chuyên môn cập nhật dữ liệu tại
nơi phát sinh; cán bộ công nghệ bảo đảm tài khoản, phân quyền và vận hành kỹ
thuật. Cách phân công này làm rõ người chịu trách nhiệm đối với từng trường dữ
liệu, tránh tình trạng hồ sơ số được lập nhưng không được cập nhật thường
xuyên.
Cần chuẩn
hóa danh mục biểu mẫu, quy tắc đặt tên tệp, thời hạn xử lý, thủ tục bàn giao và
chế độ lưu trữ. Những bước lặp lại như lập phiếu chuyển bản thảo, xác nhận bản
in cuối, theo dõi hợp đồng hoặc tổng hợp sản lượng có thể được số hóa trước vì
dễ đo hiệu quả. Lãnh đạo đơn vị nên sử dụng bảng tiến độ dùng chung trong giao
ban, định kỳ xem xét các hồ sơ quá hạn, nguyên nhân phải sửa nhiều vòng và mức
độ hoàn thiện chứng từ. Kết quả chuyển đổi số vì vậy được đánh giá bằng thời
gian xử lý giảm, tỷ lệ hồ sơ đầy đủ, số lỗi phiên bản và khả năng cung cấp
thông tin kịp thời, chứ không chỉ bằng số phần mềm hoặc số tệp đã đưa lên hệ
thống.
Chuyển đổi
số trong xuất bản là quá trình chuyển từ quản lý từng công đoạn sang quản trị
toàn bộ vòng đời của sản phẩm tri thức. Khi các mảng công tác được kết nối bằng
dữ liệu, viên chức chủ động đổi mới phương pháp làm việc thì Nhà xuất bản và
Tạp chí không chỉ nâng cao năng suất, mà còn thực hiện tốt hơn sứ mệnh đưa tri
thức khoa học xã hội và nhân văn đến với xã hội.