image banner
VI | EN
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 1
  • Tất cả: 1
image advertisement
image advertisement
image advertisement

Giới thiệu Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 3/2026

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 3/2026 trân trọng gửi tới bạn đọc những nghiên cứu mới về chính trị, triết học, kinh tế, luật học, xã hội…, được tuyển chọn và sắp xếp theo nhiều chủ đề khác nhau, phản ánh những vấn đề trọng tâm của đời sống khoa học và thực tiễn hiện nay. Nội dung các bài viết không chỉ đa dạng về lĩnh vực mà còn phong phú về cách tiếp cận, từ nghiên cứu lý luận đến tổng kết thực tiễn, từ phân tích chuyên sâu đến gợi mở giải pháp. Các bài viết thể hiện sự quan tâm đến những vấn đề có ý nghĩa, gắn với yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, cũng như củng cố nền tảng tư tưởng và sự đồng thuận xã hội. Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã cung cấp thêm những luận cứ, góc nhìn và gợi mở có giá trị tham khảo đối với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn và tham mưu chính sách.

A blue cover with a circular pattern
Description automatically generated

Tạp chí tiếng Việt số 3/2026

Có thể điểm qua một số bài viết tiêu biểu như:

Bài viết của GS.TS. Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng – Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: “Đưa Chương trình hành động Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn” tập trung phân tích một điểm đổi mới có ý nghĩa đặc biệt của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đó là việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết ngay cùng với Đại hội. Theo tác giả, đây không chỉ là đổi mới về mặt hình thức mà thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo, từ nhấn mạnh chủ trương sang đề cao hành động, từ quyết tâm chính trị sang yêu cầu tạo ra kết quả cụ thể trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ những nội dung cốt lõi của Chương trình hành động, trong đó nổi bật là tư tưởng “dân là gốc” được xác định như nguyên tắc xuyên suốt. Nhân dân không chỉ là mục tiêu mà còn là chủ thể và động lực của quá trình phát triển; Vì vậy, hiệu quả thực hiện Nghị quyết phải được đo bằng mức độ cải thiện đời sống và sự hài lòng của người dân. Việc cụ thể hóa tư tưởng này đòi hỏi phải hoàn thiện các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hệ thống chính trị. Bài viết đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá về thể chế phát triển, coi đây là khâu then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu của Đại hội XIV. Việc hoàn thiện đồng bộ thể chế, đổi mới quản trị quốc gia, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và xóa bỏ các rào cản hành chính được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện. Cùng với đó là tinh thần hành động quyết liệt trong toàn hệ thống chính trị, với phương châm chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, bảo đảm các chủ trương nhanh chóng đi vào cuộc sống. Một nội dung quan trọng khác được tác giả đề cập là vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong quá trình triển khai Chương trình hành động. Theo đó, lĩnh vực này có nhiệm vụ cung cấp luận cứ khoa học, tổng kết thực tiễn và tư vấn chính sách, góp phần nhận diện các điểm nghẽn, đề xuất giải pháp khả thi và bảo đảm các quyết sách của Đảng được thực hiện hiệu quả.

Bài viết của tác giả TS. Đỗ Đức Hồng Hà: “Hình sự hóa hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, góp phần thực hiện “Mệnh lệnh” chống lãng phí của Tổng Bí thư Tô Lâm” tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Tác giả nhấn mạnh rằng, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng bảo đảm quyền con người, quyền công dân và duy trì trật tự, kỷ cương xã hội. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ thực trạng hệ thống pháp luật hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được như từng bước hoàn thiện về thể chế, tính đồng bộ ngày càng được nâng cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tác giả cũng thẳng thắn chỉ ra một số hạn chế như: tính chồng chéo, thiếu thống nhất ở một số quy định, cũng như những khó khăn trong khâu tổ chức thực hiện, làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước. Một nội dung quan trọng được đề cập là yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng và thực thi pháp luật theo hướng minh bạch, khả thi và gắn chặt với thực tiễn. Theo đó, cần nâng cao chất lượng công tác lập pháp, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện, đồng thời phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức và người dân trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật. Bài viết cũng nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật, coi đây là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả thực thi. Việc nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ được xem là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Bài viết của tác giả TS. Lê Thị Tuyền: “Cơ cấu dân số vàng và những vấn đề đặt ra cho chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” tập trung phân tích cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn hiện nay. Tác giả khẳng định, Việt Nam đang ở thời kỳ “dân số vàng” với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm ưu thế, tạo ra cơ hội lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đây được xem là “cửa sổ cơ hội” quan trọng, nếu được khai thác hiệu quả sẽ giúp đất nước bứt phá mạnh mẽ. Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra rằng, bên cạnh những lợi thế, cơ cấu dân số vàng đang đặt ra nhiều thách thức đáng chú ý. Trước hết là xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, trong khi mức sinh có xu hướng giảm, dẫn đến nguy cơ mất cân đối giữa lực lượng lao động và nhóm dân số phụ thuộc trong tương lai. Bên cạnh đó, dù số lượng lao động dồi dào nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn hạn chế, thể hiện ở trình độ kỹ năng, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh quốc tế chưa cao. Những vấn đề này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ làm giảm hiệu quả của lợi thế dân số vàng. Từ thực trạng đó, tác giả nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội theo hướng toàn diện và bền vững. Cụ thể, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo nghề, mở rộng độ bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thích ứng với quá trình già hóa dân số. Ngoài ra, việc đổi mới tư duy trong quản lý và khai thác hiệu quả nguồn lao động cũng được xem là yếu tố then chốt.

Bài viết của tác giả TS. Nguyễn Vũ Hoàng: “Không gian công cộng trong khu tập thể ở Hà Nội: Kiến tạo và biến đổi” tập trung nghiên cứu sự hình thành và biến đổi của không gian công cộng trong các khu tập thể (KTT) cũ ở Hà Nội, tiêu biểu là KTT Kim Liên, dưới góc nhìn nhân học đô thị và lý thuyết “sản xuất không gian” của Henri Lefebvre. Tác giả cho rằng, không gian không chỉ là yếu tố vật lý do nhà nước hay kiến trúc sư tạo ra, mà là một sản phẩm xã hội, luôn được tái tạo thông qua hoạt động, nhu cầu và sự tương tác của cư dân trong từng giai đoạn lịch sử. Qua khảo sát thực tế, bài viết chỉ ra rằng các không gian công cộng như: hành lang, cầu thang, vỉa hè và sân chung đều đã có sự biến đổi mạnh mẽ so với thiết kế ban đầu. Những không gian vốn mang tính công cộng dần bị “tư nhân hóa” hoặc sử dụng linh hoạt theo nhu cầu sinh hoạt và mưu sinh của người dân. Quá trình này diễn ra thông qua các thỏa hiệp, thương lượng giữa các hộ gia đình, cộng đồng cư dân và chính quyền địa phương. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thị trường sau Đổi mới, vỉa hè và sân chung trở thành nơi kinh doanh, để xe hoặc sinh hoạt đa chức năng, làm thay đổi rõ rệt diện mạo và chức năng của KTT.

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 3/2026 đã góp phần phản ánh tương đối toàn diện nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay. Thông qua các bài viết được lựa chọn và sắp xếp theo định hướng khoa học, Tạp chí không chỉ cung cấp thêm những luận cứ và góc nhìn có giá trị tham khảo mà còn góp phần làm rõ hơn một số yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Với nội dung phong phú, cách tiếp cận đa chiều và tinh thần nghiên cứu nghiêm túc, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 3/2026 tiếp tục khẳng định vai trò là diễn đàn trao đổi học thuật, gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, qua đó đóng góp thiết thực vào công tác nghiên cứu, giảng dạy, quản lý và tham mưu chính sách.

                                                          Phương Thanh Thủy

Phòng Tạp chí tiếng Việt

Nguồn bài viết: Trang TTĐT Nhà xuất bản và Tạp chí Khoa học xã hội
Thư viện ảnh