Cuốn sách Khảo cổ học tiền sử Nghệ An của hai tác giả PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử và Phan Thanh Toàn mà bạn đọc quan tâm là kết quả thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu hệ thống các di tích hang động ở miền núi biên giới tỉnh Nghệ An (2015-2016). Đây là công trình được nghiệm thu xuất sắc với những đánh giá cao về công tác điền dã, nhiều phát hiện và nhận định mới có giá trị do chính nhóm tác giả thực hiện.
Trong công trình này, thời đại Đá cũ ở Nghệ An được xác nhận phát triển qua hai giai đoạn chính. Trong đó, giai đoạn sớm từ 80 đến 40 nghìn năm BP, là thời kỳ xuất hiện người Homo sapiens và công cụ mảnh đá quartz ở lớp dưới hang Thẩm Ồm. Giai đoạn muộn từ 40 đến 11 nghìn năm BP với sự hiện diện của những hóa thạch người Homo sapiens sapiens và kỹ nghệ công cụ cuội mà tiêu biểu là di tích ngoài trời ở Làng Vạc và một số hang động như hang Thẩm Chàng và lớp muộn hang Thẩm Ồm.
Công trình cũng đã đề cập đến ba giai đoạn phát triển thời đại Đá mới trên đất Nghệ An. Trong đó, sơ kỳ Đá mới Nghệ An thuộc bình tuyến văn hóa Hòa Bình, đại diện là các di tích hang động, mái đá vùng karst Bắc Trung Bộ, có niên đại từ 11 nghìn đến 6 nghìn năm cách ngày nay.
Giai đoạn trung kỳ Đá mới Nghệ An không chỉ là sự tiếp tục truyền thống Hòa Bình ở vùng núi rộng lớn, mà đã có một bộ phận chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển, thực thi cách tân văn hóa thể hiện trong chế tác công cụ, trong hoạt động kiếm sống, từng bước thích ứng với sự biến động của môi trường biển tiến Holocene trung.
Giai đoạn hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Nghệ An cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ của cư dân vùng núi, vươn ra chiếm lĩnh thềm cổ sông Lam, định cư và thực hành nông nghiệp định cư. Đặc biệt là, cư dân vùng đồng bằng ven biển đã có những thay đổi đột biến, từ nhóm cư dân hậu kỳ Đá mới - văn hóa Bàu Tró sang các cộng đồng xã hội luyện kim, đúc đồng, nông nghiệp trồng lúa như Đền Đồi, Rú Trăn, xác lập văn hóa tiền Đông Sơn ở lưu vực sông Lam, góp phần hội tụ, tạo dựng các trung tâm văn minh sớm ở Việt Nam.
Trong công trình này, các tác giả cũng đã phác dựng bức tranh toàn cảnh về đời sống vật chất, tinh thần, cấu trúc xã hội của các cộng đồng dân cư thời tiền sử Nghệ An, cũng như xác định vị trí, tính đặc sắc văn hóa của khu vực trong bối cảnh rộng hơn.
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề mà độc giả mong đợi vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng trong cuốn sách này. Chúng ta có thể chia xẻ với tác giả những khó khăn trong công tác điền dã, sự thiếu vắng tư liệu nghiên cứu mới chuyên sâu có hệ thống, cũng như những hạn chế về tri thức tiền sử khu vực nói chung.
Dẫu vậy, tôi cho rằng, đây là một công trình tốt, bước đầu cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin mới, cập nhật và cách tiếp cận hiện đại về thời tiền sử - một chương mở đầu cho lịch sử Nghệ An nói riêng và Bắc Trung Bộ Việt Nam nói chung.
Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc!